Thánh Anê Lê Thị Thành
Số lượng xem: 68

Thánh Anê Lê Thị Thành, thường được gọi là Bà Đê, sinh năm 1781 tại làng Gia Miếu (Bái Điền), huyện Yên Định, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình Công giáo. Vì mưu sinh, khi còn nhỏ bà theo gia đình về sinh sống tại làng Phúc Nhạc, nay thuộc xã Khánh Nhạc, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo phận Phát Diệm.

Từ nhỏ, bà đã nổi tiếng là người ngoan hiền, đạo đức, siêng năng cầu nguyện và tham dự các sinh hoạt nhà thờ. Bà còn phụ giúp gia đình têm trầu để bán. Năm 19 tuổi, bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Nhất, một người Công giáo sốt sắng. Hai ông bà sống bằng nghề làm ruộng và nuôi tằm, sinh được sáu người con: hai trai là Đê và Trân, bốn gái là Thu, Năm, Nhiên và Nụ. Theo tục lệ gọi tên cha mẹ theo con trai trưởng, bà được gọi là bà Đê.

Trong đời sống gia đình, bà Anê là người mẹ hiền, tận tụy giáo dục con cái học chữ, học giáo lý, siêng năng cầu nguyện, trung thành với các bí tích. Bà khuyên các con sống hiền hòa, yêu thương, và chỉ chấp thuận cho các con gái kết hôn với những thanh niên đạo đức. Nhờ sự hướng dẫn của cha mẹ, các con bà đều trở nên những người sống gương mẫu trong xóm đạo.

 

 

Nổi bật nơi bà là lòng bác ái và tinh thần bảo vệ Giáo hội, đặc biệt đối với các linh mục trong thời kỳ cấm đạo dưới triều vua Thiệu Trị. Bà và chồng đã dành riêng một khu nhà làm nơi trú ẩn cho các linh mục lánh nạn, dù biết rằng tội chứa chấp linh mục có thể dẫn đến cái chết.

Tháng 4 năm 1841, do bị tố cáo, quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đem quân về làng Phúc Nhạc lục soát. Bà Đê, linh mục Galy Lý, ông Trùm Cơ và hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá bị bắt và giải về Nam Định. Khi ấy bà đã 60 tuổi.

Tại công đường, quan ép bà chối bỏ đức tin, nhưng bà kiên quyết từ chối. Bà bị đánh đập, thậm chí bị thả rắn độc vào người để uy hiếp, nhưng bà vẫn trung thành với Chúa và không khai báo nơi ẩn náu của các linh mục khác. Bà cầu nguyện:

"Lạy Chúa, xin thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa."

Trong tù, dù bị hành hạ liên tục, bà vẫn giữ tinh thần bình an và khích lệ những người xung quanh. Khi con gái vào thăm, thấy bà đầy thương tích mà khóc, bà an ủi:

"Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy. Mẹ vui lòng chịu khổ vì Giêsu."

Sau thời gian dài chịu cực hình, bà qua đời ngày 12 tháng 7 năm 1841, hưởng thọ 61 tuổi. Thi hài bà được chôn tại pháp trường Bảy Mẫu. Sáu tháng sau, người ta tìm lại mộ và nhận ra nơi an táng bà qua một dấu lạ, thân xác được thuật lại là còn nguyên vẹn. Năm 1881, hài cốt bà được cải táng cùng với các vị tử đạo khác.

Ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Giáo hoàng Piô X phong bà lên bậc Chân Phước. Ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong bà lên bậc Hiển Thánh, trong số 118 Thánh Tử Đạo Việt Nam. Thánh Anê Lê Thị Thành là Thánh nữ duy nhất trong số các vị tử đạo được tuyên thánh.

Trong cộng đồng Công giáo Việt Nam, Thánh Anê Lê Thị Thành được tôn kính như biểu tượng của người mẹ Công giáo gương mẫu, trung thành với đức tin, can đảm giữa bách hại và trọn vẹn trong tình yêu đối với Thiên Chúa.

 

Sưu tầm & biên soạn

 

BÀI ĐĂNG
TAGS
Thánh Anê Lê Thị Thành

Thánh Anê Lê Thị Thành, thường được gọi là Bà Đê, sinh năm 1781 tại làng Gia Miếu (Bái Điền), huyện Yên Định, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình Công giáo. Vì mưu sinh, khi còn nhỏ bà theo gia đình về sinh sống tại làng Phúc Nhạc, nay thuộc xã Khánh Nhạc, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo phận Phát Diệm.

Từ nhỏ, bà đã nổi tiếng là người ngoan hiền, đạo đức, siêng năng cầu nguyện và tham dự các sinh hoạt nhà thờ. Bà còn phụ giúp gia đình têm trầu để bán. Năm 19 tuổi, bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Nhất, một người Công giáo sốt sắng. Hai ông bà sống bằng nghề làm ruộng và nuôi tằm, sinh được sáu người con: hai trai là Đê và Trân, bốn gái là Thu, Năm, Nhiên và Nụ. Theo tục lệ gọi tên cha mẹ theo con trai trưởng, bà được gọi là bà Đê.

Trong đời sống gia đình, bà Anê là người mẹ hiền, tận tụy giáo dục con cái học chữ, học giáo lý, siêng năng cầu nguyện, trung thành với các bí tích. Bà khuyên các con sống hiền hòa, yêu thương, và chỉ chấp thuận cho các con gái kết hôn với những thanh niên đạo đức. Nhờ sự hướng dẫn của cha mẹ, các con bà đều trở nên những người sống gương mẫu trong xóm đạo.

 

 

Nổi bật nơi bà là lòng bác ái và tinh thần bảo vệ Giáo hội, đặc biệt đối với các linh mục trong thời kỳ cấm đạo dưới triều vua Thiệu Trị. Bà và chồng đã dành riêng một khu nhà làm nơi trú ẩn cho các linh mục lánh nạn, dù biết rằng tội chứa chấp linh mục có thể dẫn đến cái chết.

Tháng 4 năm 1841, do bị tố cáo, quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đem quân về làng Phúc Nhạc lục soát. Bà Đê, linh mục Galy Lý, ông Trùm Cơ và hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá bị bắt và giải về Nam Định. Khi ấy bà đã 60 tuổi.

Tại công đường, quan ép bà chối bỏ đức tin, nhưng bà kiên quyết từ chối. Bà bị đánh đập, thậm chí bị thả rắn độc vào người để uy hiếp, nhưng bà vẫn trung thành với Chúa và không khai báo nơi ẩn náu của các linh mục khác. Bà cầu nguyện:

"Lạy Chúa, xin thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa."

Trong tù, dù bị hành hạ liên tục, bà vẫn giữ tinh thần bình an và khích lệ những người xung quanh. Khi con gái vào thăm, thấy bà đầy thương tích mà khóc, bà an ủi:

"Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy. Mẹ vui lòng chịu khổ vì Giêsu."

Sau thời gian dài chịu cực hình, bà qua đời ngày 12 tháng 7 năm 1841, hưởng thọ 61 tuổi. Thi hài bà được chôn tại pháp trường Bảy Mẫu. Sáu tháng sau, người ta tìm lại mộ và nhận ra nơi an táng bà qua một dấu lạ, thân xác được thuật lại là còn nguyên vẹn. Năm 1881, hài cốt bà được cải táng cùng với các vị tử đạo khác.

Ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Giáo hoàng Piô X phong bà lên bậc Chân Phước. Ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong bà lên bậc Hiển Thánh, trong số 118 Thánh Tử Đạo Việt Nam. Thánh Anê Lê Thị Thành là Thánh nữ duy nhất trong số các vị tử đạo được tuyên thánh.

Trong cộng đồng Công giáo Việt Nam, Thánh Anê Lê Thị Thành được tôn kính như biểu tượng của người mẹ Công giáo gương mẫu, trung thành với đức tin, can đảm giữa bách hại và trọn vẹn trong tình yêu đối với Thiên Chúa.

 

Sưu tầm & biên soạn